SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KHAI THÁC HIỆU QUẢ CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

 

 

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ
  2. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

Thực hiện nghị quyết số 29 về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngành GD – ĐT đã có những bước chuyển đáng kể trong việc đổi mới các hình thức dạy học nhằm đưa những kiến thức HS được học tập gần hơn với đời sống thực tế của các em. Các em không những chỉ được học trên sách vở mà các em còn được học ngoài không gian lớp học, được tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn liền với đời sống thực tế của các em, làm cho việc tiếp thu kiến thức của các em trở nên dễ dàng hơn, hấp dẫn hơn, kích thích được trí tò mò, sự sáng tạo của các em trong quá trình học tập.

Bác Hồ, một vị lãnh tụ vĩ đại, một nhà giáo ưu tú đã từng nói: “Học đi đôi với hành”, câu nói này đặc biệt có ý nghĩa trong công tác giáo dục bởi những kiến thức mà học sinh được học chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó được áp dụng trong cuộc sống, được phục vụ đời sống của con người. Vì vậy hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những hoạt động mà học sinh không những áp dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống mà nó còn giúp học sinh khám phá tìm hiểu những kiến thức có liên quan đến đời sống thực tế, gắn liền với đời sống thực tế của con người một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao.

Cha ông ta đã từng dạy “Chăm hay không bằng tay quen”, tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ngoài việc áp dụng kiến thức vào cuộc sống, khám phá những điều thú vị gắn liền với đời sống con người, nó còn giúp học sinh được rèn các kĩ năng lao động, kĩ năng làm việc giúp hình thành những con người có thói quen lao động và làm việc hiệu quả, kích thích trí tò mò, sự sáng tạo của HS, góp phần tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội. Ngày nay việc học tập gắn liền với đời sống luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các cấp quản lý giáo dục, của các nhà giáo đang ngày đêm đứng trên bục giảng.

Khoa học đã chứng minh phần lớn các sáng kiến được tạo ra từ những điều tưởng chừng như rất đơn giản trong đời sống thực tế của con người từ  “Quả táo rơi”  đến định luật Vạn vật hấp dẫn của Niu – tơn;  Từ câu chuyện thú vị của Ác – si – mét hay từ những thắc mắc của con người như:

  “ Thuyền to, thuyền nặng hơn kim

         Thế mà thuyền nổi, kim chìm tại sao?”

đến việc phát minh ra lực đẩy Ác – si – mét để giải đáp về cơ chế nổi của các vật trên mặt nước… Tất cả những phát minh đó đều được bắt nguồn từ thực tế đời sống từ đó kích thích trí tò mò của các nhà khoa học thôi thúc họ phải tìm hiểu để có được những phát minh vĩ đại có tác dụng to lớn trong đời sống của con người.

Hiện nay, để đáp ứng được các yêu cầu về đổi mới giáo dục các nhà trường đều đã và đang xây dựng được cơ sở vật chất đa dạng, hiện đại góp phần to lớn trong công tác dạy học và giáo dục học sinh. Không những nhà trường mà ở các địa phương với phong trào xây dựng nông thôn mới, cơ sở vật chất ở các địa phương không ngừng được cải thiện, các công trình phúc lợi công cộng như điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa, khu vui chơi, đền, chùa, nơi thờ tự  được xây dựng khang trang bề thế, đáp ứng được yêu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân.

Vì thế, vấn đề được đăt ra là làm thế nào để khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường và cơ sở vật chất cũng như các công trình công cộng, gắn liền với hoạt động sản xuất, truyền thống văn hóa tại địa phương trong việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ( HĐTNST) và đó là lý do để tôi lựa chọn đề tài này.

 

  1. Thực trạng của các nhà trường khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS

          Thông qua tìm hiểu thực trạng việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS tiểu học ở một số trường tiểu học huyện Nam Trực và một số trường tiểu học thuộc tỉnh Nam Định tôi nhận thấy thực trạng việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong các trường tiểu học như sau:  Phần lớn các nhà trường không tổ chức hoặc rất ít khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS. Vậy tại sao lại có thực trạng này thì sau đây là một số lý do có thể lý giải cho thực trạng trên:

          – Một là: Hiểu về hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa đúng: Nhiều nhà trường với bộ phận giáo viên hiểu hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động phải có quy mô lớn, địa điểm tổ chức xa địa bàn các em sinh sống, rất tốn kém về kinh phí, phải huy động một lực lượng lớn con người cho các hoạt động này  như các hoạt động tham quan dã ngoại, du lịch…

          – Hai là: Chưa tìm hiểu kĩ về chương trình môn học lớp học nên không biết phải tổ chức hoạt động nào gắn với môn học nào, sự kiện nào, thời gian nào trong năm.

          – Ba là: Chưa tìm hiểu về cơ sở vật chất của nhà trường, của địa phương cũng như những truyền thống nhà trường, địa phương nên chưa khai thác được cơ sở vật chất có sẵn của nhà trường và của địa phương trong việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

 

III. Những khó khăn khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS

– Khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo hầu hết phải cần một không gian lớn, thoát khỏi không gian lớp học nên việc tổ chức quản lý và điều hành học sinh gặp rất nhiều khó khăn vì vậy nhà trường và giáo viên còn ngại khi gặp phải những khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện nên không muốn tổ chức các hoạt động trải nghiệm này.

          – Thời gian tổ chức một hoạt động trải nghiệm sáng tạo khá dài không gói gọn trong một hoặc hai tiết học nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc sắp xếp bố trí các giờ dạy với các môn học khác hoặc với các hoạt động khác trong nhà trường.

          – Để tổ chức một hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS cần có sự tham gia, phối hợp và cho phép của nhà trường của các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức ở địa phương đặc biệt là sự đồng thuận và hỗ trợ của cha mẹ học sinh. Đây cũng là một khó khăn không nhỏ khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS.             

– Mất thời gian đầu tư, tìm hiểu về địa điểm. tổ chức hoạt động, đoạn đường HS phải di chuyển khi hoạt động, thời gian tổ chức, những thuận lợi và những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình tổ chức thực hiện.

– GV ít khi tham gia trực tiếp các sự kiện nên chưa có kinh nghiệm tổ chức các buổi trải nghiệm nhằm tạo được hứng thú và lôi cuốn HS đối với hoạt động này.

– Việc xây dựng kế hoạch gặp không ít khó khăn với nhà trường và với GV  bởi kế hoạch xây dựng có chi tiết đầy đủ rõ người rõ việc và tạo được tâm thế cho đối tượng tham gia một cách hợp lý thì hoạt động trải nghiệm sáng tạo mới có được thành công như mong muốn. Những thiếu sót trong khi xây dựng kế hoạch cũng có thể có thể dẫn đến việc tổ chức không thành công các hoạt động này

 

  1. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ KHAI THÁC HIỆU QUẢ CƠ SỞ VẬT CHẤT NHÀ TRƯỜNG, ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HS TIỂU HỌC.
  2. Tập huấn cho cán bộ giáo viên nhân viên về các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường

Trước đây, khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, đa số GV làm thay HS ở hầu hết các khâu: lựa chọn nội dung, xây dựng kế hoạch, chuẩn bị. HS chỉ tham gia thực hiện theo kế hoạch của GV lập sẵn và với chỉ một số ít HS trong lớp được tham gia. Còn khi tổ chức HĐTNST với yêu cầu tất cả HS đều được tham gia đầy đủ các bước thì đây thực sự là nhiệm vụ mới mẻ, khó khăn nên GV còn rất lúng túng trong khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện. Do vậy tổ chức tập huấn để mỗi GV nắm chắc nội dung, mục đích, ý nghĩa, yêu cầu và các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm là rất cần thiết.     

Vì vậy, tôi đã tiến hành tập huấn cho giáo viên về hoạt động trải nghiệm sáng tạo với các nội dung sau:

         

  1. Giúp GV hiểu thế nào là hoạt động trải nghiệm sáng tạo:

Theo Tài liệu tập huấn về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường tiểu học  của hai tác giả Đinh Thị Kim Thoa và Bùi Ngọc Diệp cho biết:

Trong Giáo dục học, thuật ngữ hoạt động giáo dục được hiểu theo hai nghĩa: hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm hoạt động dạy học (nhằm chủ yếu phát triển mặt nhận thức và các năng lực trí tuệ…) và hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp – nhằm chủ yếu phát triển mặt tình cảm, động cơ… năng lực quan hệ xã hội…). Gọi tên hai hoạt động nhưng thực chất chúng luôn đi song song với nhau bởi “trong dạy học có giáo dục, trong giáo dục có dạy học”, không có việc dạy học kiến thức nào lại không đi với giáo dục phẩm chất
con người; và cũng không có sự giáo dục đạo đức con người nào lại không có

sự dạy trong đó. Tuy nhiên, đối với mỗi loại nội dung tri thức và tùy theo mục tiêu giáo dục mà nội dung giáo dục được chuyển tải nhiều hơn bằng con đường dạy học hay con đường giáo dục. Hoat động giáo duc (nghĩa hẹp) ̣ ở

các nước khác nhau có những tên gọi khác nhau như “ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”; “ Hoạt động ngoại khóa”; “ Hoạt động giáo dục ngoài không gian lớp học:; “ Hoạt động tập thể”; “ Hoạt động trải nghiệm” hay Hoạt động đặc biệt do HS tự chủ”…  các tên gọi này cũng có thể xuất phát từ hình thức tổ chức đặc thù thức, không gian tổ chức hoặc thời gian tổ chức, tính chất hoạt động động… Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp được gọi là Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động ngoài giờ lên lớp được thay thế bằng tên gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo và được định nghĩa như sau: Hoạt
động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát triển tiềm năng sáng tạo của các nhân.

  1. 2. Công tác chỉ đạo và tuyên truyền nhận thức cho GV

          – Giúp GV nhận thức được HĐTNST không chỉ là những hoạt động với quy mô lớn, khó thực hiện mà có thể diễn ra ngay trong một giờ học. HĐTNST có thể tổ chức ngay trong sân trường, vườn trường, các phòng chức năng. HĐTNST cũng có thể được tổ chức tại địa phương như cùng tham gia các hoạt động sản xuất cùng người dân địa phương, làng nghề hoặc tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hóa tại địa phương…

          – Việc tổ chức các HĐTNST ngay tại trường mình, địa phương mình cũng tranh thủ được sự giúp đỡ, hợp tác của các đoàn thể trong nhà trường, của cha mẹ HS, của các tổ chức xã hội tại địa phương đồng thời có thể khai thác hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường của địa phương để tổ chức các HĐTNST mà không tốn kém kinh phí lại dễ thực hiện.

  1. GV hướng dẫn cho HS tìm hiểu về HĐTNST

– Ngay từ đầu năm học, ngoài việc hướng dẫn HS xây dựng nội quy  của lớp, của trường, các kỹ năng cơ bản: tổ chức, làm việc nhóm, ghi chép vv… GV cần giới thiệu, hướng dẫn cho HS hiểu về mục đích, các hình thức, cách tổ chức HĐTNST. Thông qua đó, HS cả lớp biết lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với nội dung; nắm được các bước cơ bản cần thực hiện, trách nhiệm của từng cá nhân khi tham gia HĐTNST.

– GV nên hướng cho HS lựa chọn nội dung thực hiện trong cả năm học dựa trên chủ điểm từng tháng, điều kiện, khả năng của bản thân, của lớp, của nhà trường, của địa phương có thể tổ chức được. Việc này sẽ tạo tâm thế sẵn sàng thực hiện cho HS.

 

  1. Tổ chức và duy trì tốt hoạt động của hội đồng tự quản lớp

GV cần mạnh dạn giao việc cho hội đồng tự quản thực hiện các nhiệm vụ quản lí lớp, duy trì tổ chức sinh hoạt lớp, giờ chào cờ đầu tuần, tổ chức sinh nhật… Khuyến khích các em tích cực tham gia trang trí lớp, tự tổ chức các hoạt động vui chơi, đăng kí tham gia các câu lạc bộ,  tránh làm thay, làm hộ HS. GV chỉ đóng vai trò là người tư vấn giúp đỡ. Làm như vậy các em mới có cơ hội bộc lộ khả năng của bản thân, rèn luyện các phẩm chất, năng lực cần thiết. Từ đó có thêm các kĩ năng cần thiết để tổ chức HĐTNST hiệu quả.

  1. Tổ chức phong phú các hình thức, phương pháp dạy học trên lớp.

HĐTNST có nội dung rất đa dạng và mang tính tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục. Vì thế khi dạy học trên lớp, GV cần tổ chức bằng nhiều hình thức, phương pháp dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, trò chơi, đố vui, ứng dụng công nghệ thông tin, các kĩ thuật dạy học tích cực… Đặc biệt là phương pháp Bàn tay nặn bột. Dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột chính là tổ chức HĐTNST ngay trong từng môn học.

  1. Tạo cơ hội cho tất cả HS tham gia vào cả quá trình của HĐTNST.

HĐTNST về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Thông qua HĐTNST hình thành những năng lực, kỹ năng sống, phẩm chất tốt đẹp của HS. Chính vì thế, để tổ chức HĐTNST, mỗi GV phải giúp đỡ, hỗ trợ các em tham gia từ khâu thiết kế xây dựng kế hoạch đến khâu triển khai HĐTNST để các em thấy được vai trò vị thế, trách nhiệm của các em khi tham gia vào tất cả các khâu của HĐTNST.

 

  1. Nghiên cứu nội dung chương trình các môn học, các hoạt động giáo dục của từng lớp trong trường.

– Trường Tiểu học Nam Thượng đã thực hiện mô hình trường học mới VNEN từ năm học 2015-2016 nên các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các tiết dạy ngoài không gian lớp học cũng được thường xuyên tổ chức thực hiện có hiệu quả. Việc tổ chức các HĐTNST cũng đã có được nền tảng từ các năm học trước tuy nhiên quy mô chưa lớn, số lượng chưa nhiều.

– Từ năm học 2016-2017 đến năm học 2018-2019, BGH nhà trường đã có được những định hướng cụ thể để GV tổ chức các HĐTNST thông qua việc tìm hiểu nội dung chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục.

– Ngay từ đầu năm học, BGH nhà trường yêu cầu GV lập bảng thống kê các môn học, các hoạt động giáo dục, các hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể tổ chức thành các HĐTNST sau đó nộp về BGH nhà trường. Trong bảng thống kê yêu cầu ghi rõ tên môn, tên bài, nội dung hoạt động bao gồm 1 hoạt động, cả bài, nhiều bài  hay cả một chủ đề, thời gian, không gian tổ chức HĐTNST đó.

– Đối với các HĐTNST gồm 1 hoạt động thì GV chỉ cần điều chỉnh Tài liệu hướng dẫn học giúp HS tham gia các hoạt động HĐTNST một cách hiệu quả. Đối với những HĐTNST là một bài, nhiều bài hay một chủ đề, GV cùng với HS xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng HĐTNST.

– Ban giám hiệu căn cứ vào bảng thống kê đối chiếu với chương trình của từng môn, từng lớp và xét duyệt cho GV tổ chức HĐTNST. GV chủ động cùng HS lập kế hoạch để tổ chức các HĐTNST trong đó có ghi rõ những cơ sở vật chất cần khai thác ở nhà trường hay ở địa phương, thời gian tổ chức thực hiện kế hoạch đó.

 

III. Tìm hiểu cơ sở vật chất của nhà trường của địa phương

Việc tìm hiểu cơ sở vật chất của nhà trường, của địa phương là việc làm rất quan trọng nhằm khai thác hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường, của địa phương. Khi nắm chắc được cơ sở vật chất hiện có của nhà trường và của địa phương giúp cho ta xây dựng kế hoạch HĐTNST hợp lý, sát với thực tiễn và tận dụng tối đa điều kiện sẵn có từ đó tổ chức các HĐTNST đạt hiệu quả hơn. Qua thực tế nghiên cứu tôi nhận thấy cơ sở vật chất của nhà trường và của địa phương hiện có:

  1. Cơ sở vật chất nhà trường:

          – Trường Tiểu học Nam Thượng được công nhận trường Đạt chuẩn Quốc gia mức độ II từ năm học 2009-2010 và công nhận lại Chuẩn quốc gia mức độ II tháng 11 năm 2015. Cơ sở vật chất trang thiết bị của trường cơ bản đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay. Mặt khác nhà trường đã được công nhận trường đạt chuẩn Xanh – Sạch – Đẹp – An toàn, Thư viện đạt chuẩn. Trường xây dựng được không gian học tập thân thiện với những đổi mới về cảnh quan môi trường, đổi mới về không gian lớp học tạo cho nhà trường có được diện mạo mới, là điều kiện thuận lợi để tổ chức các HĐTNST cho HS. Tháng 3 năm 2017, trường được công nhận Kiểm định chất lượng Cấp độ 3 nên điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường rất tốt, đáp ứng được các yêu cầu dổi mới giáo dục hiện nay, là điều kiện để tổ chức tốt các HĐTNST trong nhà trường.

– Năm học 2016-2017, trường đã xây dựng thành công vườn thực nghiệm phía tây trường. Từ đó đến nay, vườn thực nghiệm luôn được bàn tay cô và trò các lớp chăm sóc thường xuyên. Vườn thực nghiệm cùng với vườn cây trước sân trường trồng rất nhiều loại cây khác nhau như cây ăn quả, cây hoa, cây thuốc nam… là địa điểm lý tưởng để tổ chức cho HS được trải nghiệm ngay tại vườn thực nghiệm hay vườn trường khi học về chủ đề thực vật. Chẳng hạn khi dạy chủ đề thực vật của môn Tự nhiên và xã hội lớp 1,2,3; môn Khoa học lớp 4,5, GV có thể cho HS trải nghiệm ngay tại trường mà không cần phải đi đâu xa, cũng có thể tiết kiệm rất nhiều kinh phí, thời gian nhưng HS vẫn được trải nghiệm một cách hiệu quả.

– Ngoài ra, cơ sở vật chất có sẵn của trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II chính là những điều kiện cơ bản để tổ chức các HĐTNST. Không gian rộng lớn của nhà trường với sân chơi, bãi tập, các phòng chức năng với đầy đủ phương tiện, điều kiện không những tổ chức tốt các hoạt động trải nghiệm ngay tại trường lớp mà còn là nơi để tổ chức các hoạt động tập thể theo chủ điểm, hoạt động sinh hoạt lớp một cách hiệu quả. Tùy từng nội dung bài học, hay chủ điểm cụ thể mà GV có thể khai thác không gian, cũng như cảnh quan nhà trường với môi trường thân thiện hoặc khai thác không gian lớp học để tổ chức HĐTNST.  Chẳng hạn tổ chức các ngày lễ, các hội thi, giao lưu hay các hội chợ, gian hàng với quy mô nhỏ để tổ chức các hoạt động trao đổi sách truyện, đồ dùng học tập, hay những sản phẩm tạo ra trong quá trình học tập.

  1. Cơ sở vật chất của địa phương

          – Những năm gần đây, với phong trào xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn đã thay đổi, khang trang hơn, sạch đẹp hơn, đáp ứng các yêu cầu, các tiêu chí của chuẩn nông thôn mới. Mặt khác việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào đời sống lao động sản xuất cũng giúp cải thiện đời sống, giảm bớt sự khó nhọc của người dân trong quá trình lao động sản xuất.

          – Cơ sở vật chất ở địa phương bao gồm các công trình công cộng cũng được xây dựng khang trang như điện, đường, trường trạm, nhà văn hóa, đền, chùa, nghĩa trang liệt sĩ… Các địa phương xây dựng nông thôn mới đều xây dựng quy ước, hương ước giúp cho người dân địa phương trong đó có cả GV và HS cùng xây dựng, giữ gìn và bảo vệ làm cho cảnh quan môi trường ở địa phương rất sạch đẹp, rất gần gũi, thân thiện.    

– Mỗi địa phương lại có truyền thống riêng được gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ năm này sang năm khác như các làng nghề truyền thống, có các lễ hội truyền thống, các cơ sở như khu di tích lịch sử, khu văn hóa, cơ quan, nhà vườn, khu chăn nuôi, đồng ruộng… Ngày nay, các địa phương còn có thêm những cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp hay công trường … đều có thể là địa điểm để HS được thực hành, trải nghiệm sáng tạo.

– Mặt khác để HS được rèn luyện về kỹ năng khi tham gia các HĐTNST thì hoạt động của các làng nghề truyền thống hay các hoạt động  gieo trồng hoặc thu hoạch nông sản tại địa phương hoặc ở mỗi gia đình… cũng được coi  là nơi HS trải nghiệm để rèn kỹ năng, và giáo dục truyền thống cho HS.

– Tất cả các điều kiện cơ sở vật chất tại địa phương nêu trên cũng chính là điều kiện lý tưởng để tổ chức các HĐTNST để giúp cho HS có thể hiểu rõ hơn các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân địa phương, góp phần hình thành ở các em những phẩm chất, năng lực cơ bản nhằm hình thành những con người mới. Điều đặc biệt quan trọng là khi tổ chức cho các em tham gia các HĐTNST sẽ giúp các em gần gũi hơn với cuộc sống của gia đình, của cộng đồng, làm cho các kiến thức các em thu được không xa rời cuộc sống thực tế, giúp các em biết yêu người thân, gia đình, yêu quê hương, đất nước.

 

  1. IV. Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo

          Xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể cho mỗi HĐTNST, được gọi là thiết kế HĐTNST cụ thể. Đây là một bước rất quan trọng trong việc tổ chức các HĐTNST. Khi thiết kế HĐTNST chúng ta đã phải tính toán tới rất nhiều yếu tố như con người, thời tiết, không gian, thời gian… và yếu tố góp phần quan trọng đến thành công của HĐTNST chính là cơ sở vật chất. Vì thế, thiết kế HĐTNST chính là khâu cơ bản nhằm trả lời các câu hỏi: Để tổ chức được HĐTNST cần sử dụng điều kiện phương tiện gì? Các phương tiện, điều kiện đó có ở đâu? Sử dụng các phương tiện, điều kiện đó như thế nào? Ai thực hiện? Thực hiện như thế nào?

Việc thiết kế các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau:

 

Bước 1: Đặt tên cho hoạt động

Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn,  tạo ra được trạng thái tâm lí đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn.

Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

– Rõ ràng, chính xác, ngắn ngọn,

– Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.

– Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh.

Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch HĐTNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu.

Bước 2: Xác định mục tiêu của hoạt động

Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó.

Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động.

Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mực độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị.

Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là:

– Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động,

– Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động

– Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò

Tùy theo chủ đề của HĐTNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng.

Khi xác định mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:

– Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)

– Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?

– Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?

Bước 3: Xác định nội dung và hình thức của hoạt động

Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động.

Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện, từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể trong một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là trung tâm, còn hình thức khác là phụ trợ.

Ví dụ: “Thảo luận về việc phát huy truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo”. Hình thức thảo luận là chủ đạo, có thể xen kẽ hình thức văn nghệ, trò chơi hoặc đố vui . Trong diễn đàn về “Truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam”, nên chọn hình thức  tuyên truyền về truyền thống lịch sử của quân đội, gìn giữ và phát huy tinh thần “Anh hùng, bất khuất, trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng chiến thắng”, kết hợp với thi đàn, hát, kể chuyện, thi tìm hiểu về anh bộ đội Cụ Hồ hoặc gặp gỡ, giao lưu với các cựu chiến binh, các chú bộ đội…để tăng tính đa dạng, tính hấp dẫn cho diễn đàn.

Bước 4: Chuẩn bị hoạt động

Trong bước này, cả giáo viên và học sinh cùng tham gia công tác chuẩn bị. Để chuẩn bị tốt cho hoạt động, giáo viên cần làm tốt các công việc sau đây:

– Nắm vững các nội dung và hình thức hoạt động đã được xác định và dự kiến tiến trình hoạt động.

– Dự kiến những phương tiện, điều kiện cần thiết để hoạt động có thể được thực hiện một cách có hiệu quả. Các phương tiện và điều kiện cụ thể là:

+ Các tài liệu cần thiết liên quan đến các chủ đề, phục vụ cho các hình thức hoạt động.

+ Các phương tiện hoạt động như phương tiện âm thanh, nhạc cụ, đạo cụ, phục trang, ánh sáng, tranh ảnh, băng đĩa hình, băng đĩa nhạc, máy tính, máy chiếu overhead hay projector, các loại bảng…

+ Phòng ốc, bàn ghế và các phương tiện phục vụ khác.

+ Tài chính chi phí cho việc tổ chức hoạt động…v.v…

Cần khai thác những phương tiện, điều kiện sẵn có của nhà trường, của địa phương, huy động sự góp sức của học sinh và gia đình học sinh. Đây là yếu tố cơ bản giúp cho việc tổ chức các HĐTNST trở nên dễ dàng, thuận tiện, tiết kiệm tối đa các chi phí. Cần phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức ở địa phương để có sự trợ giúp; cần đảm bảo tính khả thi và tính tiết kiệm.

– Dự kiến phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm hay cá nhân và thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị.

– Dự kiến thời gian, địa điểm tổ chức hoạt động, những lực lượng mời tham gia hoạt động.

– Dự kiến những hoạt động của giáo viên và học sinh với sự tương tác tích cực trong quá trình tổ chức hoạt động.

Về phía học sinh, khi được giao nhiệm vụ, tập thể lớp, hội đồng tự quản lớp hay các tổ, nhóm cần bàn bạc một cách dân chủ và chủ động phân công những công việc cụ thể cho từng cá nhân, tổ và nhóm; trao đổi, bàn bạc để xây dựng kế hoạch triển khai công tác chuẩn bị.

Trong quá trình đó, giáo viên cần tăng cường sự theo dõi sát sao, kiểm tra và giúp đỡ kịp thời, giải quyết những vướng mắc để hoàn thành tốt khâu chuẩn bị, tránh phó mặc hoặc qua loa, đại khái.

Bước 5. Lập kế hoạch

Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng. Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch.

– Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian, cơ sở vật chất…cần cho việc hoàn thành các mục tiêu.

– Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kì người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được.

– Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu.

Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động

Trong bước này, cần phải xác định:

– Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện?

– Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao?

– Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào?

– Các công việc cụ thể  cho các tổ, nhóm, các cá nhân

          – Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc.

Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động

– Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được.

– Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh.

Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng văn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động

 

  1. Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất, phối hợp với các lực lượng trong cộng đồng.

Các hình thức HĐTNST rất phong phú: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa, thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,…  Để giúp các em tổ chức tốt HĐTNST thì sự tham gia  của cộng đồng đặc biệt là cha mẹ HS là vô cùng quan trọng. Nhà trường  cũng như mỗi GV cần chủ động đề xuất, phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các ban ngành đoàn thể địa phương; các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những nghệ nhân, những người lao động… cùng tham gia. Đây là những lực lượng có thể nắm bắt và hỗ trợ GV hết sức nhiệt tình bởi chính những lực lượng này là những người đang thường xuyên sử dụng và khai thác nguồn lực cơ sở vật chất tại địa phương nên nắm bắt khá rõ ràng cơ sở vật chất, cách khai thác hiệu quả cơ sở vật chất đó.

 

  1. Làm tốt vai trò trung tâm của nhà trường.

HĐTNST thường diễn ra trong không gian mở, có nhiều lực lượng giáo dục tham gia, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức, kinh phí nên mỗi nhà trường cần xây dựng thời khóa biểu hợp lí, linh hoạt. Có thể bố trí HĐTNST liền với giờ Sinh hoạt tập thể hay Giáo dục cộng đồng để GV có nhiều thời gian hơn bởi ở tiểu học, GV chủ nhiệm hàng ngày đều có mặt ở lớp, những nội dung nhận xét đánh giá tình hình của lớp có thể thực hiện ngay sau mỗi buổi học. Nhà trường cần giao quyền tự chủ và khuyến khích GV linh hoạt, sáng tạo trong việc xây dựng chương trình thời khóa biểu.

 

Những điểm cần chú ý khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo:

– HĐTNST không chỉ là trách nhiệm của riêng GV chủ nhiệm nên nhà trường cần đóng vai trò trung tâm, định hướng tổ chức, chỉ đạo, điều hành, phân công trách nhiệm cho các thành viên trong nhà trường; chủ động phối hợp với các lực lượng giáo dục khác khi tổ chức HĐTNST cho HS.

 – Bên cạnh đó, nhà trường cần đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính vụ cho hoạt động của các em; khuyến khích, động viên đội ngũ GV tích cực và sáng tạo trong quá trình tổ chức hoạt động. Mỗi nhà trường cần căn cứ vào khả năng, điều kiện của HS, của trường, của cộng đồng địa phương để tổ chức HĐTNST sao cho HS được chủ động, phấn khởi, tích cực tham gia.

  1. HIỆU QUẢ MÀ SÁNG KIẾN ĐEM LẠI

          Sau hai  năm học từ năm học 2017-2018 đến năm học 2018-2019, trường tôi đã thu được những kết quả khá khả quan thông qua việc tổ chức các HĐTNST cho HS. HĐTNST giờ đây đã trở thành một nội dung, nhiệm vụ không thể thiếu được trong trường và đã thu được những kết quả tốt đẹp. Cụ thể như sau:

  1. Đối với HS:

– HĐTNST tạo cho HS cơ hội được thể hiện, bộc lộ, và khẳng định bản thân. HS được giao lưu, học hỏi bạn bè và mọi người xung quanh trong thực tiễn cuộc sống, các em trở nên hồn nhiên, hiếu động, thích tìm tòi, khám phá và phần lớn HS đều trở nên mạnh dạn, tự tin, chủ động trong việc lập kế hoạch, tham gia hoạt động với khả năng sáng tạo và phát huy được hết khả năng, năng lực của bản thân.

          – Thông qua các HĐTNST mà HS được tìm hiểu về phong tục tập quán, cách sinh hoạt của nhân dân địa phương và được tìm hiểu về truyền thống quê hương đất nước. HĐTNST còn giúp HS biết yêu thiên nhiên và thích gần gũi với thiên nhiên, thích được cùng học tập, sinh hoạt, vui chơi với bạn bè.

          – HĐTNST tác động tích cực đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi của HS, giúp các em phát triển hài hòa và toàn diện về các mặt đạo đức, thể chất, các em được giáo dục tình cảm, thái độ, các kĩ năng sống cơ bản từ đó giúp các em vững vàng và tự tin hơn trong cuộc sống hàng ngày.

 

  1. Đối với GV:

          – Thay đổi suy nghĩ và lối mòn truyền thống trong dạy học và giáo dục HS: Dạy học chỉ qua bảng, phấn, sách giáo khoa. Đưa các nội dung dạy học và giáo dục học sinh gần hơn với đời sống thực tế của con người thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các HĐTNST cho HS một cách hiệu quả.

– Tích cực, chủ động trong việc tổ chức các HĐTNST, từ khâu đăng ký hoạt động đến khâu tổ chức xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch.

          – Thấy rõ được hiệu quả to lớn do HĐTNST đem lại đó là: Tiết kiệm được kinh phí khi tổ chức các HĐTNST nhờ khai thác hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường, của địa phương; Không phải mua sắm những trang thiết bị, đồ dùng dạy học cho các tiết dạy khi dạy bằng bảng, phấn; Tìm được sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục trong nhà trường, các lực lượng tại địa phương đặc biệt là lôi kéo được cha mẹ HS cùng tham gia các HĐTNST.

 

 

 

  1. Đối với cộng đồng:

–  Có nhận thức rõ về vai trò của các lực lượng trong cộng đồng đối với việc giáo dục HS. Tích cực tham gia các HĐTNST  khi được nhà trường, GV mời tham gia hợp tác.

– Sẵn sàng hỗ trợ về thời gian, công sức, kinh phí khi cùng GV và nhà trường tổ chức các HĐTNST cho HS.

– Hiểu, sẵn sàng chia sẻ, hợp tác cùng với GV và nhà trường khi tham gia công tác xã hội hóa giáo dục. Tích cực động viên người thân, cộng đồng, cùng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục trong đó có việc tổ chức các HĐTNST cho HS.

Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm này còn được thể hiện ngay trên cổng thông tin điện tử  của trường Tiểu học Nam Thượng với địa chỉ truy cập:  http://thnamthuong.pgdnamtruc.edu.vn được đăng trong chuyên mục ”Trải nghiệm sáng tạo ””Tin tức”. Phần lớn các HĐTNST đã được ghi lại bằng hình ảnh và những bài viết thu hoạch hết sức sinh động đây chính là các minh chứng hết sức cụ thể về các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của trường Tiểu học Nam Thượng.

Sau đây là một số hình ảnh về các HĐTNST đã được tổ chức thành công của trường Tiểu học Nam Thượng.  ( Phụ lục)

 

  1. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN

   Tôi cam kết sáng kiến không sao chép, không vi phạm bản quyền, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

                                    Nam Thượng, ngày 20 tháng 5 năm 2019

                                                         Người viết

 

                                                Nguyễn Thị Thu Hà